Thư Viện
Giáo Lý Cơ Bản của Lớp Giáo Lý và Viện Giáo Lý Tôn Giáo


Các Giáo Lý Cơ Bản

Lớp Giáo Lý và Viện Giáo Lý Tôn Giáo

1. Thiên Chủ Đoàn

Có ba nhân vật riêng biệt trong Thiên Chủ Đoàn: Thượng Đế Đức Chúa Cha; Vị Nam Tử của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô; và Đức Thánh Linh (xin xem Công Vụ Các Sứ Đồ 7:55–56). Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử có thể xác bằng xương bằng thịt hữu hình, và Đức Thánh Linh là một Đấng linh hồn (xin xem GLGƯ 130:22–23). Các Ngài hiệp nhất trong cùng mục đích và giáo lý. Các Ngài kết hợp trọn vẹn trong việc mang đến kế hoạch cứu rỗi thiêng liêng của Cha Thiên Thượng.

Thượng Đế Đức Chúa Cha

Thượng Đế Đức Chúa Cha là Đấng Trị Vì Tối Cao của vũ trụ. Ngài là Cha linh hồn của chúng ta. Ngài là Đấng hoàn hảo có tất cả quyền năng và biết tất cả mọi sự việc. Ngài cũng là Thượng Đế có lòng thương xót, nhân từ và bác ái trọn vẹn.

Chúa Giê Su Ky Tô

Chúa Giê Su Ky Tô là Con Đầu Sinh của Đức Chúa Cha trong thể linh và là Con Độc Sinh của Đức Chúa Cha trong thể xác. Ngài là Đức Giê Hô Va của thời Cựu Ước và Đấng Mê Si của thời Tân Ước.

Ngài sống một cuộc sống vô tội và thực hiện Sự Chuộc Tội trọn vẹn cho tội lỗi của tất cả nhân loại. Cuộc sống của Ngài là tấm gương hoàn hảo về cách mà tất cả nhân loại cần phải sống (xin xem 3 Nê Phi 27:27). Ngài là người đầu tiên trên thế gian được phục sinh. Chúa Giê Su Ky Tô sẽ tái lâm trong quyền năng cũng như vinh quang và sẽ trị vì trên thế gian trong Thời Kỳ Ngàn Năm.

Tất cả những lời cầu nguyện, phước lành và các giáo lễ của chức tư tế cần phải được thực hiện trong danh Ngài.

Đức Thánh Linh

Đức Thánh Linh là Đấng thứ ba trong Thiên Chủ Đoàn. Ngài là Đấng linh hồn không có thể xác bằng xương bằng thịt. Ngài thường được đề cập đến là Thánh Linh, Đức Thánh Linh, Thánh Linh của Thượng Đế, Thánh Linh của Chúa hoặc Đấng An Ủi.

Đức Thánh Linh làm chứng về Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử, mặc khải lẽ thật của tất cả mọi sự việc cùng thánh hóa những người nào hối cải và chịu phép báp têm (xin xem Mô Rô Ni 10:5)

2. Kế Hoạch Cứu Rỗi

Trong cuộc sống tiền dương thế, Cha Thiên Thượng giới thiệu một kế hoạch để cho chúng ta có thể trở thành giống như Ngài cũng như đạt được sự bất diệt và cuộc sống vĩnh cửu (xin xem GLGƯ 14:7; Môi Se 1:39). Thánh thư nói đến kế hoạch này là kế hoạch cứu rỗi, kế hoạch hạnh phúc vĩ đại, kế hoạch cứu chuộc và kế hoạch thương xót.

Kế hoạch cứu rỗi gồm có Sự Sáng Tạo, Sự Sa Ngã, Sự Chuộc Tội của Chúa Giê Su Ky Tô cũng như tất cả các luật pháp, giáo lễ và giáo lý phúc âm. Quyền tự quyết đạo đức—khả năng chọn lựa và hành động cho bản thân mình—cũng thiết yếu trong kế hoạch của Cha Thiên Thượng. Nhờ vào kế hoạch này, chúng ta có thể được hoàn hảo qua Sự Chuộc Tội, tiếp nhận niềm vui trọn vẹn và sống mãi mãi nơi chốn hiện diện của Thượng Đế. Mối quan hệ gia đình của chúng ta có thể tồn tại suốt thời vĩnh cửu.

Cuộc Sống Tiền Dương Thế

Trước khi sinh ra trên thế gian, chúng ta sống nơi hiện diện của Cha Thiên Thượng với tư cách là một con cái linh hồn của Ngài. Trong cuộc sống tiền dương thế này, chúng ta tham dự một đại hội với các con cái linh hồn khác của Cha Thiên Thượng. Tại đại hội đó, Cha Thiên Thượng trình bày kế hoạch của Ngài và Chúa Giê Su Ky Tô trong tiền dương thế đã giao ước sẽ là Đấng Cứu Rỗi.

Vì được ban phước với ân tứ quyền tự quyết, chúng ta đưa ra những quyết định quan trọng như quyết định tuân theo kế hoạch của Cha Thiên Thượng (xin xem 2 Nê Phi 2:27). Chúng ta đã sẵn sàng đến thế gian là nơi chúng ta có thể tiếp tục tiến triển.

Những người nào tuân theo Cha Thiên Thượng và Chúa Giê Su Ky Tô đều được phép đến thế gian để trải nghiệm sự hữu diệt và tiến đến cuộc sống vĩnh cửu. Lu Xi Phe, một đứa con linh hồn khác của Thượng Đế, phản nghịch chống lại kế hoạch đó. Nó trở thành Sa Tan và cùng những người theo nó bị đuổi ra khỏi thiên thượng rồi bị bác bỏ đặc ân tiếp nhận một thể xác và trải qua sự hữu diệt.

Cuộc Sống Trần Thế

Kế hoạch hữu diệt của cuộc sống trần thế là thời gian học hỏi mà trong đó chúng ta có thể chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu và tự chứng tỏ để xem chúng ta có sử dụng quyền tự quyết của mình để làm tất cả những gì Chúa đã truyền lệnh không. Linh hồn của chúng ta được kết hợp với thể xác, mang đến cơ hội để tăng trưởng và phát triển trong cách mà không thể nào thực hiện được trong cuộc sống tiền dương thế của chúng ta.

Cuộc Sống sau khi Chết

Khi chết, linh hồn của chúng ta sẽ bước vào thế giới linh hồn và chờ đợi Sự Phục Sinh. Linh hồn của những người ngay chính sẽ được nhận vào trạng thái hạnh phúc mà được gọi là thiên đàng. Nhiều người trung tín sẽ tiếp tục thuyết giảng phúc âm cho những người trong ngục giới linh hồn.

Ngục giới linh hồn là một chỗ tạm thời trong thế giới linh hồn dành cho những người chết mà không biết lẽ thật hoặc những người bất tuân trong cuộc sống hữu diệt. Nơi đây các linh hồn sẽ được giảng dạy phúc âm và có cơ hội để hối cải cùng chấp nhận các giáo lễ cứu rỗi mà được thực hiện cho họ trong các đền thờ. Những người nào chấp nhận phúc âm thì có thể sống trong thiên đàng cho đến thời kỳ Phục Sinh.

Sự Phục Sinh là việc kết hợp linh thể với thể xác bằng xương bằng thịt của chúng ta (xin xem Lu Ca 24:36–39). Sau khi phục sinh, linh hồn và thể xác sẽ không bao giờ bị tách rời nữa và chúng ta sẽ được bất diệt. Mỗi người sinh ra trên thế gian sẽ được phục sinh nhờ vào Chúa Giê Su Ky Tô đã khắc phục được cái chết (xin xem Giốp 19:25–26; 1 Cô Rinh Tô 15:20–22). Người ngay chính sẽ được phục sinh trước người tà ác và sẽ bước ra trong Thời Kỳ Phục Sinh Thứ Nhất.

Sự Phán Xét Cuối Cùng sẽ xảy ra sau Sự Phục Sinh. Chúa Giê Su Ky Tô sẽ phán xét mỗi người để quyết định đẳng cấp vinh quang vĩnh cửu mà người ấy sẽ nhận được. Sự phán xét này sẽ được dựa trên việc tuân theo của mỗi người đối với những lệnh truyền của Thượng Đế (xin xem Khải Huyền 20:12–13).

Có ba vương quốc vinh quang (xin xem 1 Cô Rinh Tô 15:40–42). Vương quốc cao nhất trong số ba vương quốc là thượng thiên giới. Những người nào dũng cảm trong chứng ngôn về Chúa Giê Su cùng tuân theo các nguyên tắc phúc âm sẽ ở nơi hiện diện của Thượng Đế Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô.

Vương quốc thứ nhì trong ba vương quốc vinh quang là trung thiên giới. Những người trong vương quốc này sẽ là những người nam và những người nữ đáng kính trên thế gian nhưng không dũng cảm trong chứng ngôn về Chúa Giê Su.

Hạ thiên giới là vương quốc thấp nhất trong ba vương quốc vinh quang. Những người trong vương quốc này chọn điều tà ác thay vì điều ngay chính trong cuộc sống trần thế của họ. Những người này sẽ nhận được vinh quang của họ sau khi được cứu chuộc ra khỏi ngục giới linh hồn.

3. Sự Sáng Tạo và Sự Sa Ngã

Sự Sáng Tạo

Cha Thiên Thượng là Đấng Sáng Tạo Tối Cao. Chúa Giê Su Ky Tô tạo dựng trời và đất dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Cha. Thế gian không được tạo dựng từ hư không mà được tổ chức từ chất đã có từ trước. Chúa Giê Su Ky Tô đã sáng tạo ra vô số thế giới.

Sự sáng tạo thế gian là thiết yếu đối với kế hoạch của Thượng Đế. Nó cung ứng một chỗ để chúng ta có thể đạt được thể xác, được trắc nghiệm và thử thách, cùng phát triển các thuộc tính thiêng liêng.

Chúng ta phải sử dụng các tài nguyên của trái đất một cách khôn ngoan, với óc xét đoán và lòng tạ ơn.

A Đam là người đầu tiên được tạo dựng trên thế gian. Thượng Đế sáng tạo ra A Đam và Ê Va theo chính hình ảnh của Ngài (xin xem Sáng Thế Ký 1:26–27). Tất cả nhân loại—nam lẫn nữ—đều được sáng tạo theo hình ảnh của Thượng Đế.

Sự Sa Ngã

Sự phạm giới của A Đam và Ê Va cùng những hậu quả thay đổi từ đó kể cả cái chết thuộc linh và thể xác đều được gọi là Sự Sa Ngã.

Trong Vườn Ê Đen, Thượng Đế truyền lệnh cho A Đam và Ê Va không được ăn trái của cây hiểu biết điều tốt và điều xấu; hậu quả của việc làm điều đó sẽ là cái chết thuộc linh và thể xác. Cái chết thuộc linh là sự tách rời khỏi Thượng Đế. Cái chết thể xác là sự tách rời linh hồn khỏi thể xác hữu diệt.

Vì A Đam và Ê Va phạm giới cùng ăn trái của cây hiểu biết điều tốt và điều xấu nên họ bị đuổi ra khỏi nơi hiện diện của Chúa—họ trải qua cái chết thuộc linh. Họ trở thành hữu diệt—và chịu cái chết thể xác.

Là con cháu của A Đam và Ê Va, chúng ta thừa hưởng một trạng thái sa ngã trong cuộc sống hữu diệt mà trong đó chúng ta được thử thách bởi những khó khăn của cuộc sống và những cám dỗ của kẻ nghịch thù (xin xem Mô Si A 3:19).

Sự Sa Ngã là một phần trọn vẹn của kế hoạch cứu rỗi của Cha Thiên Thượng. Kế hoạch này có chiều hướng bao gồm hai phần—đi xuống nhưng lại đi lên nữa. Ngoài việc mang lại cái chết thể xác cũng như thuộc linh, nó còn mang đến cho chúng ta cơ hội được sinh ra trên thế gian và học hỏi cùng tiến triển.

Do Sự Sa Ngã, A Đam và Ê Va và con cháu của họ có thể trải qua niềm vui và nỗi buồn, biết được điều tốt, điều xấu và có con cái (xin xem 2 Nê Phi 2:22–25).

4. Sự Chuộc Tội của Chúa Giê Su Ky Tô

Chuộc tội tức là chịu hình phạt vì tội lỗi, do đó cất bỏ những hậu quả của tội lỗi khỏi người phạm tội đã hối cải và cho phép người ấy được hòa hiệp với Thượng Đế. Chúa Giê Su Ky Tô là Đấng duy nhất có thể thực hiện Sự Chuộc Tội trọn vẹn cho tất cả nhân loại. Sự Chuộc Tội của Ngài gồm có nỗi đau khổ của Ngài vì tội lỗi của nhân loại trong Vườn Ghết Sê Ma Nê, sự đổ máu của Ngài, nỗi đau đớn và cái chết của Ngài trên cây thập tự, và Sự Phục Sinh của Ngài từ mộ phần (xin xem Ê Sai 53:3–5; GLGƯ 19:16–19). Đấng Cứu Rỗi đã có thể thực hiện Sự Chuộc Tội vì Ngài đã tự mình không phạm tội và có được quyền năng thắng cái chết. Từ người mẹ hữu diệt, Ngài đã thừa hưởng khả năng chịu chết. Từ Đức Cha bất diệt, Ngài đã thừa hưởng quyền năng để sống lại lần nữa.

Nhờ vào Sự Chuộc Tội của Chúa Giê Su Ky Tô, mọi người sẽ được phục sinh và khắc phục cái chết thể xác. Nhờ vào Sự Chuộc Tội, những người nào hối cải, tuân theo các lệnh truyền, tiếp nhận các giáo lễ cứu rỗi cùng tuân giữ các giao ước của họ thì sẽ khắc phục được cái chết thuộc linh và tiếp nhận ân tứ của cuộc sống vĩnh cửu.

Là một phần của Sự Chuộc Tội của Ngài, Chúa Giê Su đã tự Ngài mang lấy những nỗi đau đớn, bệnh tật và yếu đuối của tất cả mọi người (xin xem An Ma 7:11). Ngài hiểu nỗi đau khổ của chúng ta vì Ngài đã trải qua điều đó.

5. Gian Kỳ, Sự Bội Giáo và Sự Phục Hồi

Gian Kỳ

Gian kỳ là thời kỳ mà Chúa mặc khải các giáo lý phúc âm, các giáo lễ và chức tư tế của Ngài. Đó là thời kỳ mà Chúa có ít nhất một tôi tớ được có thẩm quyền trên thế gian, là người mang thánh chức tư tế và có một nhiệm vụ thiêng liêng để rao truyền phúc âm cho dân cư trên thế gian. Gian kỳ của thời kỳ trọn vẹn này là gian kỳ cuối cùng. Nó bắt đầu với sự mặc khải phúc âm cho Joseph Smith.

Các gian kỳ trước được nhận ra với A Đam, Hê Nóc, Nô Ê, Áp Ra Ham, Môi Se và Chúa Giê Su Ky Tô. Ngoài ra, có những gian kỳ khác kể cả những người trong số dân Nê Phi và dân Gia Rết.

Kế hoạch cứu rỗi và phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô đã được mặc khải và giảng dạy trong mỗi gian kỳ.

Sự Bội Giáo

Khi người ta xa rời các nguyên tắc phúc âm và không có các chìa khóa của chức tư tế thì họ đang ở trong tình trạng bội giáo.

Những thời kỳ của sự bội giáo chung đã xảy ra trong suốt lịch sử của thế gian. Một ví dụ là Sự Đại Bội Giáo mà đã xảy ra sau khi Đấng Cứu Rỗi thiết lập Giáo Hội của Ngài (xin xem 2 Tê Sa Lô Ni Ca 2:1–3). Sau cái chết của Các Sứ Đồ của Đấng Cứu Rỗi, con người làm sai lạc các nguyên tắc của phúc âm và có những thay đổi trái phép trong tổ chức của Giáo Hội cũng như các giáo lễ của chức tư tế. Vì sự tà ác lan rộng này nên Chúa đã rút lại thẩm quyền và các chìa khóa của chức tư tế khỏi thế gian.

Trong thời kỳ Đại Bội Giáo, con người đã không nhận được sự hướng dẫn thiêng liêng từ các vị tiên tri tại thế. Nhiều giáo hội đã được thiết lập nhưng họ đã không có thẩm quyền để ban cho ân tứ Đức Thánh Linh hoặc thực hiện các giáo lễ chức tư tế khác. Nhiều phần của thánh thư bị sửa đổi hoặc mất và con người không còn có được sự hiểu biết đúng về Thượng Đế.

Sự bội giáo này kéo dài cho đến khi Cha Thiên Thượng cùng Vị Nam Tử Yêu Dấu của Ngài hiện đến với Joseph Smith và khai mở Sự Phục Hồi phúc âm trọn vẹn.

Sự Phục Hồi

Sự Phục Hồi là tái thiết lập các lẽ thật và các giáo lễ phúc âm của Thượng Đế ở giữa loài người (xin xem Ê Sai 29:13–14; Khải Huyền 14:6–7).

Để chuẩn bị cho Sự Phục Hồi, Chúa đã dựng lên những người cao quý trong thời kỳ mà được gọi là Phong Trào Cải Cách. Họ cố gắng quay trở lại với giáo lý, những thực hành và tổ chức của tôn giáo theo cách Đấng Cứu Rỗi đã thiết lập. Tuy nhiên, họ đã không có chức tư tế cũng như phúc âm trọn vẹn.

Sự Phục Hồi bắt đầu vào năm 1820 khi Thượng Đế Đức Chúa Cha và Vị Nam Tử của Ngài, Chúa Giê Su Ky Tô, hiện đến cùng Joseph Smith để đáp lại lời cầu nguyện của ông (xin xem Joseph Smith—Lịch Sử 1:15–20). Một số sự kiện then chốt của Sự Phục Hồi là bản dịch Sách Mặc Môn, sự phục hồi Chức Tư Tế A Rôn và Mên Chi Xê Đéc và việc tổ chức Giáo Hội vào ngày 6 tháng Tư năm 1830.

Chức Tư Tế A Rôn được Giăng Báp Tít phục hồi cho Joseph Smith và Oliver Cowdery vào ngày 15 tháng Năm năm 1829. Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc và các chìa khóa của vương quốc được phục hồi vào năm 1829 khi Các Sứ Đồ Phi E Rơ, Gia Cơ và Giăng ban cho Joseph Smith và Oliver Cowdery.

Phúc âm trọn vẹn đã được phục hồi và Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô là “giáo hội hằng sống và chân chính duy nhất trên khắp mặt đất này” (GLGƯ 1:30). Cuối cùng Giáo Hội sẽ tràn ngập thế gian và đứng vững mãi mãi (xin xem Đa Ni Ên 2:44–45).

6. Các Vị Tiên Tri

Vị tiên tri là người được Thượng Đế kêu gọi để nói thay cho Ngài (xin xem A Mốt 3:7). Các vị tiên tri làm chứng về Chúa Giê su Ky Tô và giảng dạy phúc âm của Ngài. Họ tiết lộ ý muốn và đặc tính thật của Thượng Đế. Họ lên án tội lỗi và cảnh cáo về hậu quả của nó. Đôi khi, họ tiên tri về các sự kiện tương lai.

Chúng ta tán trợ Vị Chủ Tịch của Giáo Hội là vị tiên tri, tiên kiến, mặc khải và người duy nhất trên thế gian nhận được mặc khải để hướng dẫn toàn thể Giáo Hội. Chúng ta cũng tán trợ các cố vấn trong Đệ Nhất Chủ Tịch Đoàn cùng các thành viên thuộc Nhóm Túc Số Mười Hai Vị Sứ Đồ là các vị tiên tri, tiên kiến và mặc khải (xin xem GLGƯ 1:38).

7. Chức Tư Tế

Chức tư tế là quyền năng và thẩm quyền vĩnh cửu của Thượng Đế. Qua chức tư tế, Thượng Đế đã sáng tạo và cai quản trời và đất. Qua quyền năng này, Ngài cứu chuộc và tôn cao các con cái của Ngài, mang lại “sự bất diệt và cuộc sống vĩnh cửu cho loài người” (Môi Se 1:39).

Thượng Đế ban thẩm quyền chức tư tế cho các nam tín hữu xứng đáng của Giáo Hội để họ có thể hành động trong danh Ngài vì sự cứu rỗi của con cái Ngài. Những người nắm giữ chức tư tế có thể được phép thuyết giảng phúc âm, thực hiện các giáo lễ cứu rỗi và cai quản vương quốc của Thượng Đế trên thế gian. Sự cho phép này đến từ các vị lãnh đạo nắm giữ các chìa khóa chức tư tế.

Chức Tư Tế A Rôn

Chức Tư Tế A Rôn thường được gọi là chức tư tế dự bị. Các chức phẩm của Chức Tư Tế A Rôn là thầy trợ tế, thầy giảng, thầy tư tế và vị giám trợ. Trong Giáo Hội ngày nay, các nam tín hữu xứng đáng có thể nhận được Chức Tư Tế A Rôn bắt đầu vào lúc 12 tuổi.

Chức Tư Tế A Rôn “nắm giữ các chìa khóa phù trợ của các thiên sứ và của phúc âm về sự hối cải và của phép báp têm” (GLGƯ 13:1).

Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc

Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc là chức tư tế cao hơn hay lớn hơn và điều hành về những sự việc thuộc linh. Chức tư tế cao hơn này được ban cho A Đam và đã ở trên thế gian bất cứ lúc nào Chúa mặc khải phúc âm của Ngài.

Lúc đầu, chức tư tế này được gọi là “Thánh Chức Tư Tế theo Ban của Vị Nam Tử của Thượng Đế” GLGƯ 107:3). Về sau chức tư tế này được biết là Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc, đặt tên theo thầy tư tế thượng phẩm sống trong thời kỳ của tiên tri Áp Ra Ham (xin xem Sáng Thế Ký 14:18; GLGƯ

Trong Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc là các chức phẩm anh cả, thầy tư tế thượng phẩm, tộc trưởng, Thầy Bảy Mươi và Sứ Đồ. Chủ Tịch của Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc là Chủ Tịch của Giáo Hội.

8. Các Nguyên Tắc và Giáo Lễ Đầu Tiên

“Chúng tôi tin rằng những nguyên tắc và giáo lễ đầu tiên của Phúc Âm là: thứ nhất, Đức Tin nơi Chúa Giê Su Ky tô; thứ nhì, Sự Hối Cải; thứ ba, Phép Báp Têm bằng cách được dìm mình xuống nước để được xá miễn tội lỗi; thứ tư, Phép Đặt Tay để tiếp nhận ân tứ Đức Thánh Linh” (Những Tín Điều 1:4).

Đức Tin

Đức tin là “hy vọng những gì không trông thấy được mà có thật” (An Ma 32:21). Đức tin là ân tứ thuộc linh đến từ việc nghe lời Thượng Đế. Đức tin có thể gia tăng khi chúng ta cầu nguyện, học thánh thư và tuân theo các lệnh truyền của Thượng Đế.

Hơn cả sự tin tưởng thụ động, đức tin được bày tỏ qua lối sống của chúng ta.

Đức tin cần phải được tập trung nơi Chúa Giê Su Ky Tô để hướng dẫn một người đến sự cứu rỗi. Việc có đức tin nơi Chúa Giê Su Ky Tô có nghĩa là hoàn toàn trông cậy nơi Ngài cùng tin tưởng nơi Sự Chuộc Tội vô hạn, quyền năng và tình yêu thương của Ngài. Điều này gồm có việc tin nơi những lời giảng dạy của Ngài và tin rằng mặc dù chúng ta không hiểu hết mọi sự việc, nhưng Ngài hiểu hết.

Các Thánh Hữu Ngày Sau cũng có đức tin nơi Thượng Đế Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh, quyền năng chức tư tế và các khía cạnh quan trọng khác của phúc âm phục hồi. Đức tin giúp chúng ta nhận được sự chữa lành thuộc linh cũng như thể xác và sức mạnh để tiến bước, đương đầu với nỗi gian khổ cùng khắc phục cám dỗ. Đức tin cũng mang đến cho chúng ta sự bình an. Chúa sẽ làm nhiều phép lạ nhiệm mầu trong cuộc sống của chúng ta tùy theo đức tin của chúng ta.

Nhờ đức tin, một người nhận được sự xá miễn các tội lỗi và cuối cùng có thể ở nơi hiện diện của Thượng Đế.

Sự Hối Cải

Sự hối cải là thay đổi cách suy nghĩ mà mang đến cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ về Thượng Đế, về bản thân mình và về thế gian. Nó gồm có việc từ bỏ tội lỗi và tìm đến Thượng Đế để nhận được sự tha thứ. Nó được thúc đẩy bởi tình yêu mến Thượng Đế và ước muốn chân thành để tuân theo các lệnh truyền của Ngài.

Tội lỗi của chúng ta làm cho chúng ta trở nên ô uế—không xứng đáng để trở về sống nơi hiện diện của Cha Thiên Thượng. Nhờ vào Sự Chuộc Tội của Chúa Giê Su Ky Tô, Cha Thiên Thượng đã cung ứng con đường độc nhất cho chúng ta để được tha thư các tội lỗi của mình (xin xem Ê Sai 1:18).

Sự hối cải gồm có việc cảm thấy buồn rầu vì phạm tội, thú tội với Cha Thiên Thượng và với những người khác nếu cần thiết, từ bỏ tội lỗi, tìm cách phục hồi càng nhiều càng tốt tất cả những gì đã bị thiệt hại vì tội lỗi của một người cùng sống một cuộc sống tuân theo các giáo lệnh của Thượng Đế (xin xem GLGƯ 58:42–43).

Phép Báp Têm

Phép báp têm bằng cách dìm mình xuống nước bởi một người có thẩm quyền là giáo lễ cứu rỗi đầu tiên của phúc âm và cần thiết cho một cá nhân để trở thành tín hữu của Giáo Hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô. Phép báp têm cũng cần thiết cho một người để bước vào thượng thiên giới (xin xem Giăng 3:5).

Từ phép báp têm phát xuất từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “ngâm mình” hoặc “dìm mình.” Sự dìm mình tượng trưng cho cái chết của cuộc sống tội lỗi của một người và sự sinh lại cuộc sống thuộc linh, dâng hiến cho sự phục vụ Thượng Đế cùng các con cái của Ngài. Nó cũng tượng trưng cho cái chết và sự phục sinh.

Vì tất cả những người sinh ra trên thế gian không có cơ hội chấp nhận phúc âm trên trần thế nên Chúa đã cho phép làm phép báp têm cho ngưòi chết (xin xem 1 Cô Rinh Tô 15:29). Điều này cho phép những người nào chấp nhận phúc âm trong thế giới linh hồn được hội đủ điều kiện để vào vương quốc của Thượng Đế.

Ân Tứ Đức Thánh Linh

Sau khi một người chịu phép báp têm, một hoặc nhiều người nắm giữ Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc đặt tay lên đầu của người ấy và xác nhận người ấy là tín hữu của Giáo Hội. Là một phần của giáo lễ này, được gọi là lễ xác nhận, người ấy được ban cho ân tứ Đức Thánh Linh (xin xem Giăng 3:5).

Ân tứ Đức Thánh Linh khác với ảnh hưởng của Đức Thánh Linh. Trước khi chịu phép báp têm, thỉnh thoảng một người có thể cảm nhận được ảnh hưởng của Đức Thánh Linh và qua ảnh hưởng đó, có thể nhận được chứng ngôn về lẽ thật. Sau khi nhận được ân tứ Đức Thánh Linh, một người có quyền để có được sự đồng hành thường xuyên của Ngài nếu người ấy tuân giữ các giáo lệnh.

9. Các Giáo Lễ và Giao Ước.

Các giáo lễ

Trong Giáo Hội, một giáo lễ là một hành động thiêng liêng, trang trọng có ý nghĩa thuộc linh. Mỗi giáo lễ được Thượng Đế phác họa để giảng dạy các lẽ thật thuộc linh. Các giáo lễ cứu rỗi được thực hiện bởi thẩm quyền của chức tư tế và dưới sự hướng dẫn của những người nắm giữ các chìa khóa của chức tư tế.

Một số giáo lễ là thiết yếu cho sự tôn cao và được gọi là các giáo lễ cứu rỗi. Các giáo lễ này gồm có phép báp têm, lễ xác nhận, lễ sắc phong cho Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc (dành cho những người nam), lễ thiên ân đền thờ và hôn lễ gắn bó. Tất cả các giáo lễ cứu rỗi của chức tư tế được đi kèm với các giao ước.

Có các giáo lễ khác như Tiệc Thánh, các phước lành tộc trưởng và ban phước cho người bệnh.

Các giao ước

Giao ước là sự thỏa thuận thiêng liêng giữa Thượng Đế và con người. Thượng Đế ban ra các điều kiện cho giao ước và chúng ta đồng ý làm điều mà Ngài bảo chúng ta phải làm; rồi Thượng Đế hứa với chúng ta một số phước lành vì sự vâng lời của chúng ta (xin xem GLGƯ 82:10; 84:33–39).

Tất cả các giáo lễ cứu rỗi của chức tư tế đều được đi kèm theo các giao ước. Chúng ta giao ước với Chúa tại lễ báp têm và tái lập các giao ước đó bằng cách dự phần Tiệc Thánh. Các anh em nào nhận được Chức Tư Tế Mên Chi Xê Đéc sẽ bước vào lời thề và giao ước của chức tư tế. Chúng ta lập thêm các giao ước khác trong đền thờ.

10. Các Giáo Lệnh

Các giáo lệnh là các luật pháp và những điều đòi hỏi mà Thượng Đế ban cho loài người. Chúng ta cho thấy tình yêu mến của mình dành cho Ngài bằng cách tuân giữ các giáo lệnh của Ngài (xin xem Giăng 14:15). Việc tuân giữ các giáo lệnh sẽ mang đến các phước lành từ Chúa (xin xem GLGƯ 130:20–21).

Hai giáo lệnh cơ bản nhất là “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. … Và… Hãy yêu mến kẻ lân cận như mình” (Ma Thi Ơ 22:37, 39).

Mười Điều Giáo Lệnh là một phần thiết yếu của phúc âm và là các nguyên tắc vĩnh cửu cần thiết cho sự tôn cao của chúng ta (xin xem Xuất Ê Díp Tô Ký 20:3–17). Chúa mặc khải các giáo lệnh này cho Môi Se trong thời xưa và Ngài đã phán lại về các giáo lệnh này trong những điều mặc khải ngày sau (xin xem Mô Si A 13:12–24). Các giáo lệnh khác gồm có việc tuân giữ luật trinh khiết, đóng tiền thập phân trọn vẹn, sống lương thiện, cầu nguyện hằng ngày, có được tinh thần tạ ơn và tuân thủ Lời Thông Sáng.

11. Hôn Nhân và Gia Đình

“Hôn nhân giữa một người nam và một người nữ đã được Thượng Đế quy định sẵn” và “gia đình là trọng tâm” của kế hoạch cứu rỗi và hạnh phúc của Ngài.

“Những khả năng thiêng liêng về sự sinh sản chỉ có thể được sử dụng giữa người nam và người nữ đã cưới hỏi hợp pháp là chồng và vợ mà thôi.” Cha mẹ phải “sinh sôi nẩy nở và làm cho đầy dẫy trái đất,” “nuôi nấng con cái mình trong tình thương và sự ngay chính,” và “cung cấp những nhu cầu vật chất và thuộc linh cho chúng.”

“Người chồng và người vợ có một trách nhiệm trọng đại là phải yêu thương và chăm sóc lẫn nhau.” “Những người cha phải chủ tọa gia đình mình trong tình thương yêu và sự ngay chính,” và “lo liệu cho những nhu cầu cần thiết của cuộc sống.” “Những người mẹ có trách nhiệm chính yếu để nuôi dưỡng con cái mình. Trong các trách nhiệm thiêng liêng này, những người cha và người mẹ có bổn phận giúp đỡ lẫn nhau với tư cách là những người bạn đời bình đẳng.”

“Kế hoạch hạnh phúc thiêng liêng” dạy rằng “mối liên hệ gia đình” có thể tồn tại “sau cái chết.” Thế gian được tạo dựng và phúc âm được mặc khải để các gia đình có thể được tạo thành, gắn bó và tôn cao vĩnh viễn.

(Xin xem “Gia Đình: Bản Tuyên Ngôn cùng Thế Giới,” Ensign, tháng Mười Một năm 1995, 102.)

Để biết thêm chi tiết về những đề tài này, hãy vào lds.org, Gospel Library, Gospel Topics; hoặc xem Trung Thành cùng Đức Tin: Tài Liệu Tham Khảo Phúc Âm [2004].